Sưu tầm miễn phí, nhằm giúp cộng đồng có các thông tin có lợi cho sức khỏe ----- (Nếu Quý vị có bất kỳ phàn nàn nào về bản quyền, làm ơn báo lại thông qua mục Nhận xét ở dưới mỗi bài đăng. Quản trị blog sẵn sàng xem xét và gỡ bỏ bài đăng không phù hợp trong thời gian sớm nhất. Xin cám ơn!)
Bác sĩ chỉ cách bảo vệ khớp gối khi trekking dịp lễ
Sử dụng dụng cụ bảo hộ, di chuyển đúng cách, không gắng sức quá mức để bảo vệ khớp gối khi trekking.
Trekking là hoạt động đi bộ đường dài tại các địa hình hiểm trở như núi cao hoặc rừng sâu. ThS.BS.CKI Phan Thanh Tân, Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết trekking cải thiện sức khỏe tim mạch, tăng cường sức mạnh cơ bắp, đốt cháy calo hiệu quả và giảm căng thẳng, rèn luyện ý chí. Tuy nhiên, không phải ai cũng phù hợp với môn thể thao này.
Trekking là hoạt động thể chất cường độ mạnh, đòi hỏi sức bền cao và tác động trực tiếp, mạnh mẽ lên khớp gối. Việc gập gối liên tục, mang vác nặng và di chuyển trên địa hình không bằng phẳng dễ gây tổn thương sụn chêm, gân và dây chằng, đặc biệt khi xuống dốc.
Để đạt lợi ích từ môn thể thao này và phòng tránh chấn thương, bác sĩ Tân lưu ý người tham gia những điều dưới đây.
Tập luyện trước để có sức bền- yếu tố rất quan trọng trong trekking. Trước khi bắt đầu hành trình, mỗi ngày, người tham gia nên rèn luyện bằng cách đi bộ, chạy bộ, thực hiện các bài tập squat, lunges, leo cầu thang... để cơ thể quen việc vận động, tăng sức bền các nhóm cơ ở đùi trước, đùi sau và mông. Nhờ đó giảm lực tác động lên khớp gối, phòng ngừa chuột rút và kiệt sức nhanh chóng.
Trang bị phù hợp như quần áo thoải mái, thoáng khí, hành lý gọn nhẹ. Giày là yếu tố quan trọng nhất do khi trekking, mọi lực đều dồn xuống chân, khiến chân dễ bị phồng nên giày cần rộng để bàn chân thoải mái. Tuy nhiên, không nên chọn giày quá rộng, gây khó khăn trong việc di chuyển. Giày phải chống thấm nước và có độ bám cao, giảm nguy cơ té ngã.
Trang bị vật dụng hỗ trợ đầy đủ như sử dụng gậy trekking giúp phân bổ tải trọng, nhờ đó giảm áp lực lên gối, nhất là khi xuống dốc. Đeo băng bảo vệ gối để cố định và ổn định khớp, hạn chế xoay lệch khi di chuyển trên địa hình khó, giảm chấn thương hiệu quả.
Leo đúng kỹ thuật. Khi lên dốc, nhiều người có thói quen sử dụng cơ đùi trước và cơ hông để đẩy cơ thể lên. Tư thế này khiến lực tác động trực tiếp lên đầu gối, có thể làm hao mòn và tổn thương sụn khớp. Tư thế đúng khi lên dốc là giữ đầu gối và cẳng chân trụ thẳng xuống đất, sử dụng cơ bắp chân để nâng cơ thể tiến về phía trước. Khi xuống dốc, hãy thắt chặt dây giày, tránh để đầu gối căng cứng, thả lỏng các khớp gối.
Chọn cung đường phù hợp, đặc biệt với người chưa có kinh nghiệm trekking. Ngoài quãng đường leo lên, hãy nghĩ đến quãng đường đi xuống. Trong khi đi, nếu cảm thấy mệt, hãy dừng lại và hít thở đều, nhưng không nên ngồi ngay vì có thể gây tích tụ máu, đau nhức cơ bắp và chậm phục hồi.
Bác sĩ Tân khuyến cáo khi tham gia bất kỳ môn thể thao nào đều cần chú ý đến tình trạng sức khỏe, lựa chọn hình thức vận động phù hợp và cần đi bệnh viện khám ngay nếu cảm thấy bất thường.
Phi Hồng
Độc giả gửi câu hỏi về bệnh cơ xương khớp tại đây để bác sĩ giải đáp
Phi thường vạn dặm về nước của những “trí thức lớn” theo tiếng gọi Bác Hồ (Video: Minh Nhật - Phạm Tiến).
Mùa thu năm 1946, trên chiến hạm Dumont d’Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước sau chuyến công du tại Pháp.
Đi cùng Người trên con tàu ấy còn có một “vốn quý” đặc biệt của đất nước: Những trí thức Việt kiều đã quyết định rẽ hướng cuộc đời, rời bỏ châu Âu để trở về một đất nước vừa giành độc lập nhưng còn bộn bề gian khó.
Họ là những bác sĩ, kỹ sư được đào tạo bài bản ở phương Tây. Ở lại châu Âu, họ có thể có một đời sống ổn định, đủ đầy và nhiều cơ hội nghề nghiệp. Nhưng trước lời kêu gọi của non sông, họ chọn trở về.
Lựa chọn ấy diễn ra trong một thời điểm đặc biệt khắc nghiệt. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời được 1 năm, chính quyền cách mạng còn non trẻ, trong khi đất nước cùng lúc đối mặt với thù trong, giặc ngoài, nạn đói, ngân khố kiệt quệ và sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ cán bộ, trí thức.
Trước tình thế hiểm nghèo ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, muốn giữ vững nền độc lập vừa giành được, kháng chiến và kiến quốc phải đi đôi; và để kiến thiết đất nước thành công, cần nhất là ngoại giao, kinh tế, quân sự, giáo dục, cần những người “có tài năng và sáng kiến”, sẵn lòng “giúp ích cho nước nhà”.
Lần giở những tư liệu tại Bảo tàng Di sản Các nhà khoa học, cuộc trở về của các tri thức lớn hiện lên vừa ly kỳ, vừa hùng tráng, trở thành minh chứng chói lọi cho tinh thần yêu nước trên mặt trận tri thức.
Trong những trí thức rời Pháp theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước năm ấy, có bác sĩ Trần Hữu Tước.
Tốt nghiệp Đại học Y khoa Paris năm 1937, ông khi đó đã là bác sĩ tai mũi họng có danh tiếng, từng được mời hợp tác giảng dạy và điều trị tại nhiều bệnh viện ở Pháp. Một tương lai nghề nghiệp rộng mở đang ở trước mắt.
Nhưng tin Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà độc lập đã khiến ông chọn một con đường khác.
“Năm 1945, được tin Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà độc lập, một niềm hân hoan tuyệt đối đã đến với tôi… Tôi vẫn nhớ những ngày tháng được gặp Bác.
Cho nên tôi về. Về nhẹ nhàng, trầm lặng”, lời tự sự của bác sĩ Trần Hữu Tước về sự kiện đặc biệt này theo cuốn Trần Hữu Tước - Cuộc đời và sự nghiệp.
Trên chuyến tàu ấy, ông không phải người duy nhất rẽ hướng đời mình. Cùng trở về còn có kỹ sư Võ Quý Huân, kỹ sư mỏ Võ Đình Quỳnh, kỹ sư Phạm Quang Lễ (người sau này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên là Trần Đại Nghĩa)...
Từ bỏ mức lương tương đương 22 lượng vàng, kỹ sư Phạm Quang Lễ chỉ có một mong muốn tột bậc duy nhất là “được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần”.
Theo Bác trở về nước, hành trang của kỹ sư Lễ không chỉ là khối óc thiên tài rèn giũa suốt hơn một thập kỷ, mà còn khoảng một tấn sách và tài liệu khoa học quân sự, vũ khí mà anh đã âm thầm nghiên cứu, thu thập.
Kỹ sư Võ Quý Huân tốt nghiệp ba bằng kỹ sư, gồm cơ điện, đúc và kỹ nghệ chuyên nghiệp, đang là kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu sản xuất máy bay và đã yên bề gia thất.
Khi ông quyết định về nước, bà Irène, vợ ông, đang đi bảo vệ luận án tiến sĩ ở thành phố khác. Mặc dù trong lòng lo lắng và day dứt khôn nguôi, nhưng ông đành gửi con gái hai tuổi cho bạn giữ hộ với lời hẹn vài ba tháng sẽ trở lại. Không ngờ, đó là cuộc chia ly mãi mãi của gia đình ông.
Trên chuyến tàu trở về, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò, đất nước còn nghèo, kháng chiến gian khổ, mọi thứ đều thiếu. Nhưng Người tin tưởng rằng những kiến thức các trí thức mang về sẽ góp phần bù đắp những thiếu thốn ấy.
Nhìn ánh mắt tin yêu của Bác, ai cũng hiểu điều quý giá nhất không nằm trong hành lý, mà chính là trí tuệ và tấm lòng của họ dành cho Tổ quốc.
Không chỉ những nhà khoa học theo Bác Hồ về nước năm 1946, nhiều trí thức đang sống và làm việc tại Hà Nội hay những đô thị phồn hoa đã lựa chọn dứt khoát bỏ hết vinh hoa để “lên rừng” khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
“Chúng tôi bỏ hết nhà cửa sang trọng, tiện nghi để đi theo tiếng gọi vào rừng”, Giáo sư Tôn Thất Tùng, đã chia sẻ quyết tâm của mình trong cuộc phỏng vấn do hãng Open Vault, Pháp, thực hiện năm 1981.
Cùng lựa chọn ấy, gia đình GS Nguyễn Văn Huyên và GS Hồ Đắc Di cũng rời Hà Nội lên chiến khu.
Trong cuốn hồi ký “Để tâm hồn được thanh thản”, GS Hồ Đắc Di nhớ lại: “Rừng núi hoang vu, nhìn quanh chỉ thấy một màu xanh rợn, tưởng chừng chỗ nào cũng đầy muỗi sốt rét, thú dữ. Mùi lá mục ẩm ướt bốc lên. Trên cỏ cây, hàng đàn vắt vươn vòi chực hút máu… Cả một vùng hoang vu, trơ trọi một ngôi nhà”.
Từ những giảng đường, bệnh viện, phòng làm việc giữa đô thị, họ bước vào một đời sống hoàn toàn khác: thiếu thốn, cách trở và luôn bị bom đạn bủa vây.
Nhưng chính trong điều kiện ấy, công việc vẫn không dừng lại. Người bác sĩ tiếp tục chữa bệnh bằng những phương tiện thô sơ. Người thầy tiếp tục dạy học khi không có bảng đen, phấn trắng. Người làm khoa học vẫn miệt mài nghiên cứu trong những căn nhà tranh giữa rừng.
Năm 1947, khi chiến sự lan rộng và thực dân Pháp ráo riết truy lùng các cơ quan đầu não của kháng chiến, gia đình ba giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng đã cùng nhau lên đường tản cư về Chiêm Hóa theo yêu cầu của cách mạng.
Trong một đợt càn quét gắt gao của địch tại Tuyên Quang, cả ba gia đình với hơn chục con người, trong đó có nhiều trẻ nhỏ, buộc phải ẩn náu tại một khu rừng hẻo lánh. Bất kỳ một âm thanh nào cũng có thể dẫn đến tai họa khôn lường.
“Giữa khoảnh khắc im lặng nghẹt thở ấy, tiếng khóc bất chợt của cậu con trai út mới hơn hai tuổi của Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên vang lên. Không chút do dự, ông bất ngờ vung tay tát con, một cái tát thật mạnh khiến đứa trẻ sững lại, nín bặt. Và rồi, kỳ diệu thay, toán lính đi qua mà không phát hiện ra bất kỳ dấu vết nào.
Sau này, người thân vẫn nhắc lại khoảnh khắc ấy như một minh chứng cho sự bình tĩnh, quả cảm và đặt lợi ích của đất nước lên trên tất cả của vị Bộ trưởng”, cán bộ Bảo tàng Di sản Các nhà khoa học Việt Nam thuật lại.
Đó là lần duy nhất trong đời ông dùng đến bạo lực với con. Nhờ sự quyết đoán ấy, ba gia đình an toàn và quan trọng hơn, ba trí tuệ lớn tiếp tục đồng hành cùng đất nước trong chặng đường trường kỳ kháng chiến.
Lời kêu gọi nhân tài giúp nước của Bác Hồ từ năm 1946 vẫn tiếp tục lay động hàng nghìn trái tim trí thức Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài.
Trong suốt thời gian làm việc tại Nhật, GS Đặng Văn Ngữ luôn đau đáu nghĩ về đất nước. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông đã từ bỏ việc ở lại Nhật với mức đãi ngộ cao, nhất quyết trở về với Hồ Chủ tịch, với cuộc kháng chiến kiến quốc của Việt Nam.
Năm 1949, hành trình ấy bắt đầu từ cảng Yokohama. Từ Nhật Bản, ông đáp tàu thủy sang Bangkok, Thái Lan, tiếp tục qua Lào rồi đi bộ vượt dãy Trường Sơn để trở về Việt Nam.
Trong bản tự thuật năm 1952, ông viết: “Về nước tham gia kháng chiến, tôi mang theo hai bộ quần áo và một ống giống nấm Penicilin”.
Trên đường về nước, khi dừng chân ở Thái Lan, ông nhận được lời khuyên nên về vùng kháng chiến ở Nam Bộ. Trong khi chờ đợi chỉ thị của Trung ương, ông đã nghiên cứu nuôi nấm Penicillin với nước dừa, là nguyên liệu sẵn có ở miền Nam, và mua một số dụng cụ thí nghiệm bằng thủy tinh nhằm chuẩn bị lập một phòng nghiên cứu về kháng sinh ở miền Nam.
Sau hành trình xuyên Lào và vượt Trường Sơn, cuối tháng 12/1949, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã về đến Liên khu IV và được tạo mọi điều kiện để hiện thực hóa những nghiên cứu của mình.
Chia sẻ với phóng viên báo Dân trí về người thầy của mình, PGS.TS Phạm Văn Thân, nguyên Trưởng bộ môn Ký sinh trùng, Đại học Y Hà Nội nói, khi về nước GS Ngữ làm Viện trưởng Viện Vi trùng ở Quân khu IV.
Ông lập ngay labo nghiên cứu vi trùng, vi nấm. Điều tra sơ bộ thấy vùng Khu IV có nhiều loại nấm có khả năng có kháng sinh. GS Đặng Văn Ngữ xin Trung ương cho ở lại Khu IV để nghiên cứu sản xuất kháng sinh.
“Mục đích lớn và nhiệm vụ nặng nề của thầy là phải nghiên cứu tìm và sản xuất được kháng sinh như ở các viện mà giáo sư từng làm việc ở Nhật”, PGS Thân nhớ lại.
Tết Nguyên đán năm 1950, trong bối cảnh kháng chiến gian khổ, một ngôi chùa nhỏ ở Yên Thành được sửa sang, cải tạo để trở thành phòng thí nghiệm, nơi thai nghén những thành tựu đầu tiên của ngành dược học kháng chiến Việt Nam.
Từ một phòng thí nghiệm nghèo nàn, ông đã tổ chức sản xuất được “nước lọc penicillin” nổi tiếng. Việc sản xuất được “nước lọc penicillin” của GS Đặng Văn Ngữ có ý nghĩa đặc biệt, góp phần đắc lực cho công cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi.
Cũng trong năm 1949, GS Lê Văn Thiêm, người Việt Nam đầu tiên nhận bằng tiến sĩ toán học, bắt đầu hành trình vạn dặm về nước của mình.
Ngay từ năm 1946, khi hay tin phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Paris, GS Lê Văn Thiêm đã tự nguyện hỗ trợ một số công việc cho phái đoàn, đồng thời tập hợp anh em trí thức Việt kiều đi đón Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Theo sự phân công của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, GS Lê Văn Thiêm sang Bỉ liên hệ, giao dịch mua vũ khí để chuyển về nước.
Năm 1948, GS Lê Văn Thiêm đại diện Việt Nam lần đầu dự Hội nghị Hòa bình thế giới tại Ba Lan. Cũng trong năm này, GS Lê Văn Thiêm trở thành người Việt Nam đầu tiên nhận học vị Tiến sĩ Quốc gia về Toán học tại Pháp, sau đó giảng dạy tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ.
Khi sự nghiệp khoa học đang rộng mở, nhà toán học lỗi lạc đã nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trở về Tổ quốc, tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ.
Ông rời Paris bay đến Bangkok, rồi từ Bangkok bộ hành qua Campuchia về rừng U Minh, Khu 9 miền Nam tham gia kháng chiến.
Năm 1950, theo sự điều động của Chính phủ, ông lại vượt Trường Sơn ra Việt Bắc chuẩn bị thành lập Trường Khoa học Cơ bản và Trường Sư phạm Cao cấp Trung ương. Ông đã đặt nền móng cho ngành Toán học Việt Nam hiện đại, sáng lập Viện Toán học, các trường chuyên toán và đào tạo nhiều thế hệ học trò xuất sắc.
Từ những phòng thí nghiệm sơ sài trong rừng, những lớp học di động, những công binh xưởng dã chiến, những trái tim rực lửa yêu nước ấy đã từng bước xây nên nền móng đầu tiên cho các ngành mũi nhọn của khoa học Việt Nam: y học, vật lý, toán học, quân sự quốc phòng, luyện kim...
'Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ' dẫn dụ bài bản, dùng tới 70 kịch bản
“Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ” tại Quảng Trị hoạt động theo mô hình chặt chẽ, sử dụng tới 70 kịch bản để lôi kéo người tham gia, đồng thời tác động tâm lý và cô lập họ khỏi gia đình, khiến nhiều người dần lệ thuộc.
Cơ quan chức năng xác định nhóm này do Nguyễn Duy Cường (SN 1991, quê Bắc Ninh) cầm đầu; vận hành theo mô hình phân cấp rõ ràng, từ người dẫn dắt, nhóm trưởng đến khu vực trưởng, với lực lượng “truyền giáo” chủ yếu là người trẻ, giao tiếp tốt, được huấn luyện kỹ năng thuyết phục.
Các đối tượng sử dụng tới 70 kịch bản khác nhau để dẫn dụ người tham gia; tùy vào hoàn cảnh, độ tuổi, tâm lý của từng người để lựa chọn cách tiếp cận phù hợp.
Nội dung tuyên truyền thường núp bóng các “bài giảng” mang màu sắc Tin Lành, nhưng thực chất nhằm thao túng nhận thức, đánh vào những người đang gặp khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là phụ nữ nhẹ dạ, người có vấn đề về sức khỏe hoặc tinh thần.
Quy trình lôi kéo được triển khai từng bước chặt chẽ. Ban đầu là làm quen, tạo thiện cảm, sau đó củng cố niềm tin bằng các nội dung mang tính “truyền cảm hứng”.
Khi đã có sự tin tưởng, các đối tượng sẽ thu thập thông tin cá nhân, hoàn cảnh gia đình, tài chính… để từ đó điều chỉnh cách tác động, từng bước kiểm soát tâm lý và hành vi của người tham gia.
Nhóm “Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ” hoạt động trái phép tại Quảng Trị vừa bị xử lý. Ảnh: T.T
Không dừng lại ở đó, khi gặp sự phản đối từ gia đình, nhóm này tìm cách làm suy yếu các mối quan hệ cá nhân, khiến người tham gia dần tách rời khỏi người thân và phụ thuộc nhiều hơn vào tổ chức.
Về tài chính, giai đoạn đầu, người tham gia chỉ được yêu cầu “dâng lễ” tùy tâm. Khi đã tham gia sâu, họ bị gây áp lực tâm lý, thậm chí bị đe dọa tinh thần để buộc đóng góp đều đặn, phổ biến là 1/10 thu nhập hàng tháng vào các ngày sinh hoạt cố định.
Để mở rộng mạng lưới, các đối tượng thường tiếp cận nạn nhân thông qua người quen, bạn bè nhằm tạo sự tin tưởng. Mạng xã hội cũng được tận dụng với các nội dung mang tính gợi mở, như chia sẻ video về “đức tin”, “thay đổi cuộc sống” để thu hút người lạ. Khi có người phản hồi, quá trình dẫn dắt sẽ được triển khai bài bản.
Hoạt động theo mô hình khép kín
Theo Công an tỉnh Quảng Trị, hoạt động của nhóm này tại Việt Nam chưa được cấp phép, không có địa điểm sinh hoạt hợp pháp và không được các hệ phái Tin Lành chính thống công nhận. Tuy nhiên, việc sử dụng danh nghĩa “Hiệp hội truyền giáo Tin Lành thế giới” đã khiến nhiều người nhầm tưởng đây là tổ chức hợp pháp, từ đó dễ bị lôi kéo.
Đáng lo ngại, tổ chức này hoạt động theo mô hình khép kín, sử dụng các nền tảng liên lạc bảo mật để điều hành và sinh hoạt từ xa. Mỗi thành viên được xem như một “mắt xích” trong mạng lưới, có nhiệm vụ tiếp tục lôi kéo người mới. Các đối tượng cũng nghiên cứu pháp luật Việt Nam để xây dựng tài liệu hướng dẫn đối phó với cơ quan chức năng.
Đối tượng Nguyễn Duy Cường cầm đầu “Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ” tại Quảng Trị. Ảnh: Công an Quảng Trị
Một số người từng tham gia tổ chức này cho biết, ban đầu họ bị thu hút bởi những lời chia sẻ mang tính động viên tinh thần. Tuy nhiên, càng tham gia sâu, họ càng cảm thấy bị chi phối, dần mất khả năng kiểm soát suy nghĩ và hành vi của bản thân.
Theo những người này, một số nghi thức trong nhóm có dấu hiệu biến tướng, mang yếu tố mê tín dị đoan, thậm chí định hướng người tham gia từ bỏ phong tục thờ cúng tổ tiên, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các mối quan hệ gia đình.
Trước thực trạng này, cơ quan chức năng khuyến cáo người dân cần nâng cao cảnh giác trước các hội, nhóm có dấu hiệu tương tự; không nên tin vào những lời mời gọi mang tính “thay đổi cuộc sống” hay “giải quyết khó khăn cá nhân”. Việc tham gia các buổi sinh hoạt, học “giáo lý” khi chưa rõ bản chất tổ chức có thể dẫn đến những hệ lụy khó lường.
Người dân cũng cần hạn chế chia sẻ thông tin cá nhân như hoàn cảnh gia đình, tài chính, số điện thoại, địa chỉ… bởi đây là những dữ liệu dễ bị lợi dụng để thao túng. Khi có dấu hiệu bị tiếp cận, cần trao đổi với gia đình, người thân để tránh bị cô lập về tâm lý.
Theo thống kê ban đầu, riêng một nhánh của tổ chức này tại Quảng Trị đã có khoảng 500 người tham gia. Tuy nhiên, con số thực tế có thể lớn hơn do vẫn còn nhiều nhánh khác chưa được phát hiện.