Phi thường vạn dặm về nước của những “trí thức lớn” theo tiếng gọi Bác Hồ (Video: Minh Nhật - Phạm Tiến).
Mùa thu năm 1946, trên chiến hạm Dumont d’Urville, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước sau chuyến công du tại Pháp.
Đi cùng Người trên con tàu ấy còn có một “vốn quý” đặc biệt của đất nước: Những trí thức Việt kiều đã quyết định rẽ hướng cuộc đời, rời bỏ châu Âu để trở về một đất nước vừa giành độc lập nhưng còn bộn bề gian khó.
Họ là những bác sĩ, kỹ sư được đào tạo bài bản ở phương Tây. Ở lại châu Âu, họ có thể có một đời sống ổn định, đủ đầy và nhiều cơ hội nghề nghiệp. Nhưng trước lời kêu gọi của non sông, họ chọn trở về.
Lựa chọn ấy diễn ra trong một thời điểm đặc biệt khắc nghiệt. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời được 1 năm, chính quyền cách mạng còn non trẻ, trong khi đất nước cùng lúc đối mặt với thù trong, giặc ngoài, nạn đói, ngân khố kiệt quệ và sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ cán bộ, trí thức.
Trước tình thế hiểm nghèo ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, muốn giữ vững nền độc lập vừa giành được, kháng chiến và kiến quốc phải đi đôi; và để kiến thiết đất nước thành công, cần nhất là ngoại giao, kinh tế, quân sự, giáo dục, cần những người “có tài năng và sáng kiến”, sẵn lòng “giúp ích cho nước nhà”.
Lần giở những tư liệu tại Bảo tàng Di sản Các nhà khoa học, cuộc trở về của các tri thức lớn hiện lên vừa ly kỳ, vừa hùng tráng, trở thành minh chứng chói lọi cho tinh thần yêu nước trên mặt trận tri thức.
Trong những trí thức rời Pháp theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước năm ấy, có bác sĩ Trần Hữu Tước.
Tốt nghiệp Đại học Y khoa Paris năm 1937, ông khi đó đã là bác sĩ tai mũi họng có danh tiếng, từng được mời hợp tác giảng dạy và điều trị tại nhiều bệnh viện ở Pháp. Một tương lai nghề nghiệp rộng mở đang ở trước mắt.
Nhưng tin Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà độc lập đã khiến ông chọn một con đường khác.
“Năm 1945, được tin Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà độc lập, một niềm hân hoan tuyệt đối đã đến với tôi… Tôi vẫn nhớ những ngày tháng được gặp Bác.
Cho nên tôi về. Về nhẹ nhàng, trầm lặng”, lời tự sự của bác sĩ Trần Hữu Tước về sự kiện đặc biệt này theo cuốn Trần Hữu Tước - Cuộc đời và sự nghiệp.
Trên chuyến tàu ấy, ông không phải người duy nhất rẽ hướng đời mình. Cùng trở về còn có kỹ sư Võ Quý Huân, kỹ sư mỏ Võ Đình Quỳnh, kỹ sư Phạm Quang Lễ (người sau này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên là Trần Đại Nghĩa)...
Từ bỏ mức lương tương đương 22 lượng vàng, kỹ sư Phạm Quang Lễ chỉ có một mong muốn tột bậc duy nhất là “được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần”.
Theo Bác trở về nước, hành trang của kỹ sư Lễ không chỉ là khối óc thiên tài rèn giũa suốt hơn một thập kỷ, mà còn khoảng một tấn sách và tài liệu khoa học quân sự, vũ khí mà anh đã âm thầm nghiên cứu, thu thập.
Kỹ sư Võ Quý Huân tốt nghiệp ba bằng kỹ sư, gồm cơ điện, đúc và kỹ nghệ chuyên nghiệp, đang là kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu sản xuất máy bay và đã yên bề gia thất.
Khi ông quyết định về nước, bà Irène, vợ ông, đang đi bảo vệ luận án tiến sĩ ở thành phố khác. Mặc dù trong lòng lo lắng và day dứt khôn nguôi, nhưng ông đành gửi con gái hai tuổi cho bạn giữ hộ với lời hẹn vài ba tháng sẽ trở lại. Không ngờ, đó là cuộc chia ly mãi mãi của gia đình ông.
Trên chuyến tàu trở về, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò, đất nước còn nghèo, kháng chiến gian khổ, mọi thứ đều thiếu. Nhưng Người tin tưởng rằng những kiến thức các trí thức mang về sẽ góp phần bù đắp những thiếu thốn ấy.
Nhìn ánh mắt tin yêu của Bác, ai cũng hiểu điều quý giá nhất không nằm trong hành lý, mà chính là trí tuệ và tấm lòng của họ dành cho Tổ quốc.
Không chỉ những nhà khoa học theo Bác Hồ về nước năm 1946, nhiều trí thức đang sống và làm việc tại Hà Nội hay những đô thị phồn hoa đã lựa chọn dứt khoát bỏ hết vinh hoa để “lên rừng” khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
“Chúng tôi bỏ hết nhà cửa sang trọng, tiện nghi để đi theo tiếng gọi vào rừng”, Giáo sư Tôn Thất Tùng, đã chia sẻ quyết tâm của mình trong cuộc phỏng vấn do hãng Open Vault, Pháp, thực hiện năm 1981.
Cùng lựa chọn ấy, gia đình GS Nguyễn Văn Huyên và GS Hồ Đắc Di cũng rời Hà Nội lên chiến khu.
Trong cuốn hồi ký “Để tâm hồn được thanh thản”, GS Hồ Đắc Di nhớ lại: “Rừng núi hoang vu, nhìn quanh chỉ thấy một màu xanh rợn, tưởng chừng chỗ nào cũng đầy muỗi sốt rét, thú dữ. Mùi lá mục ẩm ướt bốc lên. Trên cỏ cây, hàng đàn vắt vươn vòi chực hút máu… Cả một vùng hoang vu, trơ trọi một ngôi nhà”.
Từ những giảng đường, bệnh viện, phòng làm việc giữa đô thị, họ bước vào một đời sống hoàn toàn khác: thiếu thốn, cách trở và luôn bị bom đạn bủa vây.
Nhưng chính trong điều kiện ấy, công việc vẫn không dừng lại. Người bác sĩ tiếp tục chữa bệnh bằng những phương tiện thô sơ. Người thầy tiếp tục dạy học khi không có bảng đen, phấn trắng. Người làm khoa học vẫn miệt mài nghiên cứu trong những căn nhà tranh giữa rừng.
Năm 1947, khi chiến sự lan rộng và thực dân Pháp ráo riết truy lùng các cơ quan đầu não của kháng chiến, gia đình ba giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng đã cùng nhau lên đường tản cư về Chiêm Hóa theo yêu cầu của cách mạng.
Trong một đợt càn quét gắt gao của địch tại Tuyên Quang, cả ba gia đình với hơn chục con người, trong đó có nhiều trẻ nhỏ, buộc phải ẩn náu tại một khu rừng hẻo lánh. Bất kỳ một âm thanh nào cũng có thể dẫn đến tai họa khôn lường.
“Giữa khoảnh khắc im lặng nghẹt thở ấy, tiếng khóc bất chợt của cậu con trai út mới hơn hai tuổi của Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên vang lên. Không chút do dự, ông bất ngờ vung tay tát con, một cái tát thật mạnh khiến đứa trẻ sững lại, nín bặt. Và rồi, kỳ diệu thay, toán lính đi qua mà không phát hiện ra bất kỳ dấu vết nào.
Sau này, người thân vẫn nhắc lại khoảnh khắc ấy như một minh chứng cho sự bình tĩnh, quả cảm và đặt lợi ích của đất nước lên trên tất cả của vị Bộ trưởng”, cán bộ Bảo tàng Di sản Các nhà khoa học Việt Nam thuật lại.
Đó là lần duy nhất trong đời ông dùng đến bạo lực với con. Nhờ sự quyết đoán ấy, ba gia đình an toàn và quan trọng hơn, ba trí tuệ lớn tiếp tục đồng hành cùng đất nước trong chặng đường trường kỳ kháng chiến.
Lời kêu gọi nhân tài giúp nước của Bác Hồ từ năm 1946 vẫn tiếp tục lay động hàng nghìn trái tim trí thức Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài.
Trong suốt thời gian làm việc tại Nhật, GS Đặng Văn Ngữ luôn đau đáu nghĩ về đất nước. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông đã từ bỏ việc ở lại Nhật với mức đãi ngộ cao, nhất quyết trở về với Hồ Chủ tịch, với cuộc kháng chiến kiến quốc của Việt Nam.
Năm 1949, hành trình ấy bắt đầu từ cảng Yokohama. Từ Nhật Bản, ông đáp tàu thủy sang Bangkok, Thái Lan, tiếp tục qua Lào rồi đi bộ vượt dãy Trường Sơn để trở về Việt Nam.
Trong bản tự thuật năm 1952, ông viết: “Về nước tham gia kháng chiến, tôi mang theo hai bộ quần áo và một ống giống nấm Penicilin”.
Trên đường về nước, khi dừng chân ở Thái Lan, ông nhận được lời khuyên nên về vùng kháng chiến ở Nam Bộ. Trong khi chờ đợi chỉ thị của Trung ương, ông đã nghiên cứu nuôi nấm Penicillin với nước dừa, là nguyên liệu sẵn có ở miền Nam, và mua một số dụng cụ thí nghiệm bằng thủy tinh nhằm chuẩn bị lập một phòng nghiên cứu về kháng sinh ở miền Nam.
Sau hành trình xuyên Lào và vượt Trường Sơn, cuối tháng 12/1949, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã về đến Liên khu IV và được tạo mọi điều kiện để hiện thực hóa những nghiên cứu của mình.
Chia sẻ với phóng viên báo Dân trí về người thầy của mình, PGS.TS Phạm Văn Thân, nguyên Trưởng bộ môn Ký sinh trùng, Đại học Y Hà Nội nói, khi về nước GS Ngữ làm Viện trưởng Viện Vi trùng ở Quân khu IV.
Ông lập ngay labo nghiên cứu vi trùng, vi nấm. Điều tra sơ bộ thấy vùng Khu IV có nhiều loại nấm có khả năng có kháng sinh. GS Đặng Văn Ngữ xin Trung ương cho ở lại Khu IV để nghiên cứu sản xuất kháng sinh.
“Mục đích lớn và nhiệm vụ nặng nề của thầy là phải nghiên cứu tìm và sản xuất được kháng sinh như ở các viện mà giáo sư từng làm việc ở Nhật”, PGS Thân nhớ lại.
Tết Nguyên đán năm 1950, trong bối cảnh kháng chiến gian khổ, một ngôi chùa nhỏ ở Yên Thành được sửa sang, cải tạo để trở thành phòng thí nghiệm, nơi thai nghén những thành tựu đầu tiên của ngành dược học kháng chiến Việt Nam.
Từ một phòng thí nghiệm nghèo nàn, ông đã tổ chức sản xuất được “nước lọc penicillin” nổi tiếng. Việc sản xuất được “nước lọc penicillin” của GS Đặng Văn Ngữ có ý nghĩa đặc biệt, góp phần đắc lực cho công cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi.
Cũng trong năm 1949, GS Lê Văn Thiêm, người Việt Nam đầu tiên nhận bằng tiến sĩ toán học, bắt đầu hành trình vạn dặm về nước của mình.
Ngay từ năm 1946, khi hay tin phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Paris, GS Lê Văn Thiêm đã tự nguyện hỗ trợ một số công việc cho phái đoàn, đồng thời tập hợp anh em trí thức Việt kiều đi đón Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Theo sự phân công của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, GS Lê Văn Thiêm sang Bỉ liên hệ, giao dịch mua vũ khí để chuyển về nước.
Năm 1948, GS Lê Văn Thiêm đại diện Việt Nam lần đầu dự Hội nghị Hòa bình thế giới tại Ba Lan. Cũng trong năm này, GS Lê Văn Thiêm trở thành người Việt Nam đầu tiên nhận học vị Tiến sĩ Quốc gia về Toán học tại Pháp, sau đó giảng dạy tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ.
Khi sự nghiệp khoa học đang rộng mở, nhà toán học lỗi lạc đã nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trở về Tổ quốc, tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ.
Ông rời Paris bay đến Bangkok, rồi từ Bangkok bộ hành qua Campuchia về rừng U Minh, Khu 9 miền Nam tham gia kháng chiến.
Năm 1950, theo sự điều động của Chính phủ, ông lại vượt Trường Sơn ra Việt Bắc chuẩn bị thành lập Trường Khoa học Cơ bản và Trường Sư phạm Cao cấp Trung ương. Ông đã đặt nền móng cho ngành Toán học Việt Nam hiện đại, sáng lập Viện Toán học, các trường chuyên toán và đào tạo nhiều thế hệ học trò xuất sắc.
Từ những phòng thí nghiệm sơ sài trong rừng, những lớp học di động, những công binh xưởng dã chiến, những trái tim rực lửa yêu nước ấy đã từng bước xây nên nền móng đầu tiên cho các ngành mũi nhọn của khoa học Việt Nam: y học, vật lý, toán học, quân sự quốc phòng, luyện kim...
https://dantri.com.vn/khoa-hoc/phi-thuong-van-dam-ve-nuoc-cua-nhung-tri-thuc-lon-theo-tieng-goi-bac-ho-20260424173911883.htm